Khe Tù

Khe Tù trước đây là bệnh viện của Pháp và kho gạo dọc bờ sông, đến năm 1943, Pháp bắt đầu cho xây dựng nhà tù. Nhà tù được xây dựng trong khoảng thời gian là 6, 7 năm mới hoàn chỉnh. Nhà tù có hầm ngầm để nhốt cộng sản và có cả máy chém.
Có nhiều câu chuyện ở đây mà cho đến ngày nay, mỗi khi kể lại người dân Tiên Yên vẫn không khỏi bùi ngùi, xúc động. Để xây dựng nhà tù, lính Pháp đã bắt những người dân đi làm phu hồ. Xây máy chém sát bờ sông, phu hồ làm không tốt thì bọn Pháp bắt ăn cơm trộn muối, khát nước thì cho uống nước xà phòng để nôn ra rồi tiếp tục làm việc. Cuộc sống của những người phu hồ hết sức cực khổ. Đi phu hồ xây nhà tù mỗi người được 0,4 lạng gạo và 2 lạng khoai mỗi ngày, 12 đồng Đông Dương một tháng nhưng không bao giờ được cầm tiền vì cai chiếm đoạt hết.
Những người tù cộng sản bị nhốt ở đây đều bị đem ra chém đầu. Máy chém trên cao sập xuống, dao nặng khoảng 70 – 80kg, sống dao dầy 3cm, chém bất cứ lúc nào không kể ngày đêm. Ròng rọc máy chém kéo bằng dây, khi kéo lên cao rồi thả ra máy chém rơi đầu. Khi chém xong, lính Pháp bắt những người cộng sản tự đem xác đồng đội mình cho vào bao quẳng xuống sông. Xác tù nhân không ai dám vớt đem chôn, để nước sông lên xuống cuốn trôi đi vì nếu Pháp bắt được sẽ đem ra chém đầu.
Những năm 1944 - 1945, ở Tiên Yên có rất nhiều quân ô hợp như quân Pháp, Nhật, Tàu, đội quan râu dài, quân mũ rộng vành, đội cướp bóc... trong khi đó lực lượng Việt Minh chỉ có khoảng 30 người. Lúc đó đội quân du kích do trung đội trưởng Trịnh Văn Hoàn chỉ huy. Quân ta đã tổ chức nhiều cuộc giải vây cho những người cộng sản bị nhốt ở Khe Tù nhưng đều bị thất bại và những người tổ chức đều bị đưa lên máy chém.
Từ những năm 1947 – 1950, nhiều người cộng sản đã về đây hoạt động như ông Lê Bảy, Khổng Minh, bà Sĩ... đã tổ chức hoạt động bí mật bằng hình thức đánh trả du kích, bắt từng tên lính Pháp trùm bao tải cho lên rừng xử. Tháng 5 năm 1949, ở Khe Tù đã diễn ra trận đánh kho xăng khiến cả vùng ngập chìm trong khói lửa. Người lính nội ứng đánh mìn ấy đã hi sinh thầm lặng không để lại tên tuổi.
Hàng năm vào những ngày thanh minh và cuối năm có nhiều gia đình đến đây, dù không có phần mộ nhưng vẫn thắp nén hương cho những người lính đã nằm xuống vì tổ quốc. Và cũng có nhiều người tìm đến đây với hi vọng tìm thấy di hài của người thân, của đồng đội vẫn còn nằm lại trên mảnh đất này.
Đồn Cao Tiên Yên: là nơi diễn ra trận đánh oanh liệt kéo dài 7 ngày 7 đêm của quân dân địa phương phối hợp với quân đệ tứ chiến khu Đông Triều đánh bại bọn thổ phỉ những ngày đầu cách mạng tháng 8.
Núi Hậu Sơn (xã Tiên Lãng): nơi cắm là cờ đỏ sao vàng đầu tiên của quân đệ tứ chiến khu Đông Triều.
Đỉnh núi Khe Giao (xã Điền Xá): nơi thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Tiên Yên đầu tiên.
Núi chị Thư: người dân nơi đây đã lấy tên chị Nguyện Thị Thư hy sinh anh dũng trong cuộc chống càn ở Cái Đàn để đặt tên cho núi.
Gốc đa thôn Tềnh Pò (xã Phong Dụ): nơi diễn ra trận tập kích giết bọn Pháp và thổ phỉ Voòng A Sáng.
Miếu Đại Vương
Miếu Đại Vương thuộc thôn Hà Dong Bắc xã Hải Lạng, cách trung tâm thị trấn khoảng 8km, đến ngã ba xã Hải Lạng, từ ngã ba rẽ phải đi huyện Ba Chẽ khoảng 2km thì đến nơi. Từ thị trấn có thể đến di tích bằng ô tô, xe máy.
Miếu Đại Vương được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, diện tích xây dựng miếu là 241 m2, quay hướng Đông Nam, kiến trúc kiểu chữ “Nhất”, tường xây gạch thời Nguyễn, vì kèo bằng gỗ đơn giản, mái lợp ngói âm dương, đắp nổi hình hồ lô ở giữa, hai bên đầu mái cong cách điệu đơn giản.
Miếu gồm ba gian, gian giữa xây bằng bệ xi măng, trên đặt bát hương sứ và ba pho tượng. Miếu thờ Hoàng Cần là một vị tướng tài của triều Trần, đã có công giúp dân dẹp loạn, lập làng. Để tưởng nhớ công lao của ông, nhân dân đã lập miếu thờ ngay trên mảnh đất này.
Miếu Đại Vương là nơi thể hiện tín ngưỡng của ba con nhân dân xã Hải Lạng. Trong các dịp lễ tết, bà con góp tiền làm cỗ, thắp hương để tưởng nhớ công lao của vị thần. Đặc biệt có nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ và các trò chơi dân gian diễn ra tại đây. Một năm có 5 ngày lễ: lễ cầu phúc tháng giêng, lễ cầu nước chống hạn 15 tháng 4, lễ cầu nước chống hạn 15 tháng 7, lễ cầu may 15 tháng 10, tạ lễ cuối năm 15 tháng 12.
Tín Tâm miếu
Miếu nằm trên phố Hòa Bình, thị trấn Tiên Yên. Đây là ngôi miếu thờ thần hoàng làng do người Hoa để lại. Một số người dân địa phương đã đứng ra trông coi và chăm lo việc thờ tự. Vào những ngày rằm, mùng một hàng tháng, mọi người dân trong vùng đến đây để thắp hương cầu khấn các vị thần phù hộ. Tiền công đức của người dân một phần để hương khói và tu sửa miếu, phần còn lại để giúp đỡ những người nghèo.
Linh Quán tự
Ngôi chùa có từ hơn 150 năm thuộc phố Đông Tiến, thị trấn Tiên Yên. Ngôi chùa đã qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa nhưng vẫn giữ được nguyên cây nóc của ngôi chùa cổ. Bên ngoài có thờ Mẫu và thờ thổ công. Bên trong chùa có ba ban: ban chính thờ Phật, bên phải từ ngoài vào thờ Thánh Mẫu, bên trái thờ Hưng Đạo Vương. Đặc biệt trong chùa có thờ ảnh Bác Hồ. Chùa do sư thầy đại đức Thích Vân Phong chủ trì và tổ chức cúng lễ vào ngày 30 và 14 hàng tháng.
Nguồn: theo LVTN L.T.H

Bệnh viện Pháp - một công trình còn sót lại ở Khe Tù, ngày 06/03/2015

 

Khe Tù thuộc phố Long Tiên, thị trấn Tiên Yên, là địa điểm mà thực dân Pháp chọn để xây dựng nhà tù, đặt máy chém, hầm nhốt tù nhân... Đây là những chứng tích chiến tranh, ghi dấu tội ác của thực dân Pháp. Tuy nhiên, sau một thời gian dài đã bị phá hủy, hư hỏng đi nhiều. 

 

 

 Hiện nay, tại phía tây nam của Khe Tù vẫn còn dấu tích nền móng của một nhà tù, nơi giam giữ các chiến sỹ cộng sản. Đi qua khu vực này về phía tay trái có một tháp nước được xây dựng trên một gò đồi cao, xung quanh được bao bọc bởi cây rừng. Đi sâu vào bên trong là một bệ máy chém, gần đó có hầm chứa xác, bên trên có nắp đậy bằng đá hộc. Năm 2000, người dân địa phương đã xây dựng một miếu nhỏ để tưởng nhớ các chiến sĩ cộng sản hy sinh ở Khe Tù. 
      Phía bắc hầm nhốt tù nhân - ở vị trí đất cao và thoáng nhất có nhiều dãy nhà giam được bố trí thành hình vuông. Do sự tàn phá của chiến tranh nên các dãy nhà chỉ còn nền móng. Qua dấu vết còn lại cho thấy khu nhà giam này có một hành lang chạy dọc ở giữa, hai bên là hai dãy nhà được ngăn nhỏ để nhốt tù nhân. Ngoài những buồng giam, thực dân Pháp còn cho xây dựng 4 máy chém, hầm ngầm để nhốt tù nhân. Máy chém được đặt trên cao, theo các tư liệu lịch sử, khi chém các tù chính trị xong, bọn cai ngục bắt những người tù cộng sản đem xác họ cho vào bao quẳng xuống sông. Các dấu tích công trình khác gồm có tháp nước được xây dựng bằng bê tông, có hình lục giác, có 6 chân đỡ ở dưới hình trụ. Bệnh viện của Pháp nằm cạnh quốc lộ 18A, quy mô khá rộng gồm 3 dãy nhà mang đậm kiến trúc Pháp. 
      Sau khi xây dựng Khe Tù, rất nhiều các chiến sĩ cộng sản của ta bị giặc Pháp đưa từ nhiều nơi về đây giam giữ, sử dụng làm lao động khổ sai. Nhiều người đã bị giặc tra tấn, thủ tiêu nhất là sau sự kiện quân ta đánh phá kho xăng của Pháp tại Khe Tù (năm 1949). Để bảo tồn, gìn giữ di tích làm nơi giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của các chiến sĩ cộng sản thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, vừa qua, Sở VH-TT&DL phối hợp với UBND huyện Tiên Yên đã tổ chức hội thảo nhằm đánh giá những giá trị lịch sử của di tích, làm căn cứ lập hồ sơ khoa học đề nghị UBND tỉnh Quảng Ninh ra quyết định xếp hạng di tích Khe Tù là di tích lịch sử cấp tỉnh. Tại hội thảo, nhiều ý kiến đưa ra là cần thiết phải quy hoạch tổng thể khu di tích; phục hồi lại nhà tù và máy chém tại vị trí cũ; xây dựng đài tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh tại Khe Tù ở khu vực hầm chứa xác (vì có rất nhiều chiến sỹ đã hy sinh mà xác vẫn còn nằm tại đây). Tại đường vào Khe Tù, bên phải cổng doanh trại Trung đoàn 42 nên dựng một bia ghi tóm tắt sự kiện lịch sử liên quan tới Khe Tù; đầu tư, tôn tạo, xây dựng khuôn viên để di tích Khe Tù trở thành khu tham quan bổ ích.

Tuấn Điệp - Đài THTH Tiên Yên